Các môn phái trong truyện kiếm hiệp Kim Dung có thật không

Các môn phái trong truyện kiếm hiệp Kim Dung có thật không

Các môn phái trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung luôn được các độc giả đam mê tiểu thuyết võ hiệp yêu thích và qua tâm. Là một nhà văn có hiểu biết khá sâu rộng về lịch sử Trung Hoa, cố nhà văn Kim Dung đã dựa vào đó để khái quát lên những môn phái ấn tượng trong giang hồ. Vậy các môn phải trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung lấy nguồn cảm hứng từ những nguyên hình, địa danh nào có thật trong lịch sử?

Hãy cùng khám phá qua bài viết sau của Mộng Ảo Blog chúng tôi nhé.

1. 11 môn phái nổi tiếng nhất tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung và nguyên hình lịch sử

Trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, Cái Bang là bang hội đứng đầu, Thiếu Lâm là đệ nhất phái còn Minh giáo là đệ nhất giáo. Trong sự nghiệp của mình, Kim Dung đã sáng tác 14 bộ tiểu thuyết và 1 truyện ngắn. Những bộ tiểu thuyết của ông thường được các nhà sản xuất phim chuyển thể thành phim truyền hình, điện ảnh nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả.

Với chủ đề võ thuật, các môn phái như Thiếu Lâm, Cái Bang… được tiểu thuyết gia Kim Dung xây dựng thành những huyền thoại với những đặc trưng võ thuật riêng. Cùng khám phá các môn phái trong truyện kiếm hiệp Kim Dung sau đây.

1.1 Thiếu Lâm

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Các môn phái trong truyện của Kim Dung thì Thiếu Lâm là đệ nhất phái và là môn phái được nhắc nhiều nhất. Thiếu Lâm được thành lập nhờ Đạt Ma sư tổ vào khoảng năm 500, thời nhà Lương. Theo truyền thuyết của Phật giáo, Đạt Ma sư tổ đã vượt sông Trường Giang đi đến chùa Thiếu Lâm. Tại đây, ông đã thiền định trong chín năm liền. Thiếu Lâm nổi tiếng với chiêu Dịch Cân kinh, La Hán thập bát thủ, 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm…

Hư Trúc, Giác Viễn đại sư, Phương Chấn đại sư, Tảo Địa Tăng đều là những nhân vật nổi trội xuất thân từ phái Thiếu Lâm. Đặc biệt, Tảo Địa Tăng là vị sư duy nhất trong truyện kiếm hiệp Kim Dung đã tập luyện được 72 tuyệt kỹ của Thiếu Lâm Tự.

– Nguyên hình:

Với các môn phái trong truyện kiếm hiệp Kim Dung thì Thiếu Lâm là một danh môn chính phái có thực ngoài đời, với tầm ảnh hưởng không hề kém cạnh so với tiểu thuyết. Tuy nhiên hình tượng của vị Bồ Đề Đạt Ma không oai hùng, và cũng không hẳn là “ông tổ của võ học Trung Quốc” như Kim Dung mô tả.

Thiếu Lâm Tự

Thiếu Lâm là một danh môn đại phái thực sự ngoài đời, với tầm ảnh hưởng không hề kém cạnh so với tiểu thuyết

Bồ Đề Đạt Ma mang từ Ấn Độ với môn võ Kalaripayattu, có tính chất nâng cao sức khỏe và khả năng tự vệ cho tăng chúng Thiếu Lâm thời kỳ đầu. Kalaripayattu được coi là cội nguồn của võ thuật nhân loại. Là môn võ cổ xưa nhất, cao quý nhất và là nền móng cho nhiều môn võ thuật sau này.

Xuất hiện vào năm 1363 trước công nguyên. Võ thuật Ấn Độ là môn võ lâu đời nhất thế giới khi có bề dày lịch sử lên đến 3000 năm tuổi. Về sau, “Công phu Thiếu lâm” tiếp tục được tăng chúng phát triển và đã khác xa Kalaripayattu mà Bồ Đề Đạt Ma đưa tới Trung Quốc. Hiện tại Kalaripayattu không chỉ là môn võ để chiến đấu. Mà còn kết hợp với nhiều đặc trưng khác của Ấn độ như Yoga, thiền, và kỹ thuật tự vệ.

Trước khi sáng lập ra môn võ thiếu lâm tại Trung Quốc. Bồ Đề Đạt Ma cũng là đệ tử của môn võ cổ xưa này.

1.2 Võ Đang

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Phái Võ Đang do Trương Tam Phong sáng lập vào cuối thời nhà Nguyên, đầu nhà Minh. Trương Tam Phong (Trương Bảo Quân) là một nhân vật có thật trong lịch sử Trung Quốc.

Trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, Trương Tam Phong xuất hiện trong Thần điêu đại hiệp khi mới 14 tuổi. Ông đi theo giúp việc cho Giác Viễn đại sư trong chùa Thiếu Lâm và học được một phần Cửu Dương Thần Công. Nhờ bản tính thông minh hơn người, Trương Tam Phong đã sáng tạo võ thuật mới và xây dựng nên phái Võ Đang.

Đây là một môn phái chú trọng về luyện khí và kiếm pháp, lấy nhu khắc cương. Các chiêu thức nổi tiếng của Võ Đang phải kể đến Võ Đang quyền, Thái cực quyền, Thái cực kiếm…

– Nguyên hình

Theo “Vương Trưng Nam mộ chí minh” của Hoàng Tông Hy, phái Võ Đang do Trương Tam Phong sáng lập trên núi Thái Hòa (núi Võ Đang) thuộc tỉnh Hồ Bắc, bắt nguồn từ thời Tống hưng thịnh vào thời Minh, thờ Chân Vũ Đại Đế.

Trương Tam Phong (1247 – 1366) là người Ý Châu – Liêu Đông, nay là Liêu Ninh – Trung Quốc, tên thật là Trương Quân Bảo, đạo hiệu Côn Dương, sư tổ phái Võ Đang. Ông là nhân vật có thật sống vào cuối thời Nguyên đầu thời Minh, chủ trương “phúc do mình cầu, mệnh do mình tạo”.

Núi Võ Đang

Ngày nay, phái Võ Đang vẫn là môn phái Đạo giáo có tầm ảnh hưởng nhất định ở Trung Quốc

Ngày nay, phái Võ Đang vẫn là môn phái Đạo giáo có tầm ảnh hưởng nhất định ở Trung Quốc, lại càng nổi tiếng hơn nhờ có sư tổ của võ phái Trương Tam Phong tinh thông các kinh điển, võ nghệ siêu quần.
Đương thời, rất nhiều vị hoàng đế tôn kính ông, mong được gặp ông, nhưng không có cơ hội, điều đó càng tôn cao thêm danh vọng của ông. Hơn nữa, môn phái chính còn nằm trên núi Võ Đang – một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Trung Quốc.

1.3 Toàn chân giáo

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Toàn Chân Giáo do Vương Trùng Dương sáng lập vào cuối thời nhà Tống, chống lại nhà Kim. Sau khi nhà Nguyên xâm lấn Trung Quốc thì môn phái này không còn xuất hiện trong kiếm hiệp Kim Dung nữa. Những chiêu thức nổi tiếng của Toàn Chân Giáo bao gồm Tiên thiên Công, Không Minh Quyền,…

Trong Xạ điêu anh hùng truyện và Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung, Vương Trùng Dương tuy là một đạo sĩ xa lánh hồng trần, sống ẩn dật với cỏ cây nhưng thấy cảnh người dân điêu đứng lầm than vì quân Kim xâm lược, ông đã nhập thế để cứu độ chúng sinh, lãnh đạo nhân dân đứng lên chống giặc. Các đệ tử của ông trong Toàn Chân thất tử cũng thế.

– Nguyên trạng

Toàn Chân giáo là một chi phái lớn và quan trọng nhất của Đạo giáo Trung Hoa, thành lập từ thế kỷ XII và lưu truyền đến nay. Điểm đặc sắc của Toàn Chân giáo là kết hợp phương pháp tu luyện của cả Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo, hình thành nên hệ thống hành đạo, tu thân, dưỡng tính, dưỡng sinh độc đáo.

Theo tư liệu lịch sử, vào đời nhà Kim, Vương Trùng Dương gặp tiên Lã Động Tân tại trấn Cam Hà, được truyền cho khẩu quyết luyện đan là Toàn Chân.

Vương Trùng Dương bỏ Nho giáo theo Đạo giáo, tu luyện tại núi Chung Nam, đổi tên là Vương Triết, tự là Tri Minh, hiệu là Trùng Dương Tử. Từ khẩu quyết luyện đan, Vương Trùng Dương chọn tên của giáo phái là Toàn Chân đạo.

Toàn chân giáo

Vương Trùng Dương và Toàn Chân thất tử, tranh vẽ trên tường am Trường Xuân tại Vũ Hán

Tôn chỉ của Toàn Chân giáo là quên mình phục vụ xã hội cứu giúp chúng sinh, tôn trọng sự thật nên rất được kính trọng. Học trò tìm đến ông rất đông, nhưng Vương Trùng Dương dạy dỗ nghiêm khắc, thường đánh đập để thử thách họ nên cuối cùng chỉ còn lại bảy người. Nhóm bảy đạo sĩ này được gọi là Bắc Thất Chân hay Toàn Chân thất tử.

1.4 Nga Mi

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Theo kiếm hiệp Kim Dung thì Nga Mi được sáng lập bởi Quách Tương (Quách Tường, con gái của cặp Quách Tỉnh, Hoàng Dung). Võ công của Nga Mi chủ yếu sử dụng kiếm pháp, các chiêu thức dành cho nữ nhi nên chú trọng về tốc độ, độ chính xác, lấy nhu khắc cương.

Quách Tương tình cờ phải cùng trốn chạy với sư Giác Viễn và đệ tử của Giác Viễn là cậu bé Trương Quân Bảo khỏi Thiếu Lâm Tự. Bởi vậy, về sau, khi Quách Tương sáng lập Nga Mi và Trương Quân Bảo sáng lập Võ Đang, hai môn phái luôn giữ hòa hữu.

Nga Mi cũng là môn phái duy nhất chỉ có nữ giới mới được gia nhập. Các đệ tử nổi bật của phái Nga Mi là Phong Lăng sư thái, Diệt Tuyệt sư thái, Chu Chỉ Nhược, Kỷ Hiểu Phù… Trong đó, Chu Chỉ Nhược đã luyện được môn Cửu âm bạch cốt trảo.

– Nguyên hình:

Có nguồn tin nói rằng võ phái Nga Mi có nguồn gốc từ chùa Thiếu Lâm Tung Sơn, Hà Nam, nhưng cho đến nay nguồn gốc của Nga Mi vẫn chưa rõ ràng. Việc truy tìm lịch sử càng khó bởi võ công phái Nga Mi có rất nhiều nguồn gốc, lại không hề nhất quán về đường lối kỹ pháp.

Núi Nga Mi

Nằm ở phía trung Nam tỉnh Tứ Xuyên, miền Tây Trung Quốc, núi Nga Mi là một trong Tứ đại Phật giáo danh sơn

Tài liệu của Giáo sư Vũ Đức ghi rằng:

“Vào thời vua Minh Tuyên Tôn (1426) tại núi Nga Mi, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, võ phái Nga Mi được sáng lập, do nữ sáng tổ Chu Tú Anh, xuất thân từ dòng họ Chu gia giỏi võ, danh tiếng nhiều đời, tại tỉnh Sơn Đông, Hoa Bắc. Vì cha mất sớm, hai anh em Chu Đức Kiệt và Chu Tú Anh được chú ruột, Chu Đức Võ Thượng Nhân, nuôi dưỡng và truyền dạy võ nghệ rất cẩn thận”.

1.5 Cái Bang

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Cái Bang là “đệ nhất bang”, xưng hùng cùng với Thiếu Lâm “đệ nhất phái” và Minh Giáo “đệ nhất giáo”. Kim Dung mô tả Cái Bang là một hội lớn của những người ăn mày yêu nước, chuyên làm việc nghĩa hiệp được lập vào khoảng thời Đường.

Lịch sử của phái Cái Bang có từ rất lâu đời, bang chủ đầu tiên là Hồng Tứ Hải. Vũ khí lợi hại của Cái Bang chính là Đả cầu bổng pháp. Các chiêu trong phái Cái Bang không mỹ miều, phần lớn đều dùng gậy và quyền pháp đơn giản nhưng hiệu quả. Ngoài ra còn có tuyệt học Giáng Long Thập Bát Chưởng nổi danh thiên hạ.

– Nguyên Hình:

Cái Bang là một môn phái hoàn toàn giả tưởng của Kim Dung. Kéo theo đó, những Hàng Long Thập Bát chưởng, Đả cẩu bổng pháp cũng đều là giả tưởng.

1.6 Minh Giáo

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

“Đệ nhất giáo” Minh Giáo xuất xứ từ Ba Tư, truyền sang Trung Quốc khoảng thời Đường. Trong tiểu thuyết có đoạn viết:

“Trong sách kể lại minh bạch, Minh giáo nguyên từ nước Ba Tư, tên thật là Ma Ni giáo, truyền vào Trung thổ từ Diên Tải nguyên niên, đời Đường Võ Hậu. Thời đó người Ba Tư tên là Phí Đa Diên mang bộ Tam Tông Kinh của Minh giáo đến triều, là lần đầu tiên người Trung Quốc biết đến bộ kinh này.”

“Tới năm Hội Xương thứ ba, triều đình ra lệnh giết giáo đồ, thế lực Minh giáo đại suy. Từ đó về sau, Minh giáo trở thành một tôn giáo bí mật, phạm cấm, đời nào cũng bị quan phủ truy lùng giết chóc. Để có thể sinh tồn, người trong Minh giáo không thể không hành sự ngụy bí, để rồi chữ Ma trong Ma Ni bị đổi thành Ma, đồng nghĩa với tà ma, người ngoài gọi là ma giáo.”

Trong bộ Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Trương Vô Kỵ đã vô tình học được tuyệt chiêu Càn khôn đại nã di và trở thành Giáo chủ của Minh giáo. Với tinh thần nghĩa hiệp giúp yếu, luôn đối đầu với Mông Cổ, Minh Giáo đã không còn bị xem là tà đạo. Minh giáo có các môn đồ xuất chúng như Dương Tiêu, Phạm Dao, tứ đại pháp vương và ngũ hành kỳ…

– Nguyên hình:

Về căn bản, Kim Dung đã bê nguyên lịch sử Mani giáo về để tái hiện Minh Giáo trong tiểu thuyết của ông. Minh giáo đến từ một tôn giáo cổ của Iran, Mani giáo (Manichaeism), do Mani (216-277, người Ba Tư) sáng lập vào khoảng thế kỷ 3 sau Công nguyên, cực thịnh một thời.

Manichaeism

Manichaeism

Mani giáo mang tư tưởng mãnh liệt về hậu kiếp và cứu độ chúng sinh, chính điều này đã khiến Mani giáo dễ dàng dung hợp với tín ngưỡng dân gian Trung Quốc vốn đã chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo…
Về sau, đúng như Kim Dung viết, do bị quan phủ chèn ép, giáo phái này tàn lụi dần. Nhưng ở vài vùng của Trung Quốc, những phong tục của Mani giáo như khi ăn phải nuốt ba đũa cơm trắng trước rồi mới dùng thịt, cá; hay buổi sáng lạy mặt trời, buổi tối lạy mặt trăng,… vẫn tồn tại.

1.7 Hoa Sơn

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Phái Hoa Sơn trong tiểu thuyết kiếm hiệp truyện nằm trên dãy núi Hoa Sơn của tỉnh Thiểm Tây, nổi danh với Hoa Sơn kiếm pháp và Tử hà thần công.

Phái Hoa Sơn có 2 trường phái tranh chấp nhau là phe kiếm tông, lấy chiêu số kiếm thuật làm trung tâm, và phe khí tông lấy việc rèn luyện nội công làm chủ.

Hai phe phái này từng mâu thuẫn cực điểm trong quá khứ và chém giết đẫm máu khiến cho các nhân tài phái Hoa Sơn bị tiêu diệt. Nguồn gốc của môn phái này không được nói rõ.

– Nguyên hình:

Nhiều người cho rằng Hoa Sơn phái vốn là một nhánh của Toàn Chân phái, do Hách Đại Thông, thuộc Toàn Chân Thất tử sáng lập. Hoa Sơn chủ tu đan đạo, sau người ta xếp cả Hoa Sơn vào hàng ngũ kiếm tiên do kiếm thuật danh tiếng.

Núi Hoa Sơn

Núi Hoa Sơn UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1990

Hoa Sơn phái tọa lạc ở dãy Hoa Sơn hiểm trở, trên vách núi dựng đứng. Giống như trong tiểu thuyết “Bích Huyết Kiếm”, thầy thường truyền ít trò, “dùng vô thượng khinh công” mà lên xuống núi. Ngày nay người ta đã xây đường mới lên núi, nhưng xem hình cũng có thể thấy sự hiểm trở xưa kia. Đường lên đỉnh Hoa Sơn linh thiên được mệnh danh là “tử địa dẫn đến thiên đường” tại Trung Quốc và cũng được công nhận là một trong những đỉnh núi hiểm trở, cheo leo bậc nhất thế giới.

Hành trình đến Hoa Sơn như một lời thách thức đầy huyền bí với những nhà leo núi dù gan dạ nhất. Người ta nói tìm về Hoa Sơn không chỉ đơn giản là về với thiên nhiên đất trời hùng tráng, mỹ diệu mà còn là quá trình “ngộ đạo” tìm về chân ngã của chính mình và ý nghĩa của nhân sinh.

1.8 Nhật Nguyệt thần giáo

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Nhật Nguyệt Thần Giáo là một giáo phái trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, đóng vai trò tà phái thâu tóm hắc đạo trong truyện.

Kim Dung không nói về xuất xứ của Nhật Nguyệt thần giáo, nhưng độc giả suy luận rằng nguồn gốc của Nhật Nguyệt Thần Giáo là từ Minh Giáo. Trong tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long Ký , ở gần cuối bộ truyện đã đề cập đến việc Chu Nguyên Chương phản bội Minh giáo và sáng lập ra nhà Minh.

Do đó rất có thể ông ta đã ngược đãi Minh Giáo sau khi lên ngai vàng, dẫn đến việc Minh giáo bị đổi tên thành Nhật Nguyệt thần giáo (日月神教) vì chữ Minh trong tiếng Hán (明) được ghép từ hai chữ Nhật(日) và Nguyệt (月).

Minh giáo trước đó thường được đồng đạo võ lâm gọi là “Ma giáo” (魔教) tỏ ý ghê sợ, điểm này tương đồng với Nhật Nguyệt thần giáo, và giáo phái này cũng dùng những chức danh như Minh giáo, ví dụ như Quang Minh tả hữu sứ.

– Nguyên hình:

Nếu giả thuyết của các độc giả là đúng, thì nguyên hình của Nhật Nguyệt Thần Giáo cũng đến từ Mani giáo của Iran như đã trình bày ở trên.

Đầu thời Minh, sau khi lên ngôi hoàng đế, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương hạ chiếu nghiêm trị tất cả những giáo đồ Minh giáo, ai tham gia giáo phái này đều bị xử trảm. Minh giáo ngày càng suy yếu, đến cuối đời Minh đầu đời Thanh đã hoàn toàn biến mất.

1.9 Côn Luân

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Qua các tiểu thuyết của Kim Dung thì Côn Luân xuất hiện khá nhiều, nhưng chỉ với vai trò cao quý là… “lót đường”. Phái Côn Luân thành lập từ thời Đường bởi Hà Túc Đạo, vốn ban đầu là một môn phái tu tiên, luyện đan cầu trường sinh, rồi dần dần họ chuyển sang học võ. Trụ sở chính nằm trên dãy núi Côn Lôn ở cao nguyên Thanh Tạng.

Võ công Côn Luân cũng thuộc về hệ võ kỹ đạo gia, chủ về lưỡng nghi tứ tượng, ví dụ như Lưỡng Nghi Kiếm pháp.

– Nguyên hình:

Dãy Côn Lôn từ lâu đã được xem là thiên đường của người theo Đạo giáo. Nhiều tài liệu chịu ảnh hưởng của Đạo giáo cho rằng võ phái Côn Luân xuất xứ từ… Thái Thượng Lão Quân. Nhưng trong một số tài liệu khác, phái Côn Luân có sư tổ là Chu Đức Võ Thượng Nhân – người chú ruột của người sáng lập phái Nga Mi Chu Tú Anh.

Núi Côn Luân

Côn Lôn sơn là một trong những dãy núi dài nhất tại Châu Á

Vào thời vua Minh Thành Tổ, niên hiệu Vĩnh Lạc (1403 – 1425), nhà vua xuất công khố trùng tu cổ tự Bích Vân trên dãy Côn Lôn để cấp cho Chu Đức Võ Thượng Nhân trụ trì tu luyện, và sáng lập võ phái Côn Luân.
Gần ngày tạ thế, Chu Đức Võ Thượng Nhân đã truyền chức Chưởng Môn phái Côn Luân cho Chu Đức Kiệt, người cháu ruột, cũng là cao đồ đắc ý nhất của ngài. Chu Đức Kiệt cũng là anh trai của nữ sáng tổ Nga Mi – Chu Tú Anh.

1.10 Thanh thành

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Cũng như Côn Luân, kiếm hiệp Kim Dung cùng đề cập thường xuyên đến phái Thanh Thành xuất hiện, nhưng cũng với vai trò cao quý là “lót đường”. Các cao thủ Thanh Thành được mô tả là tu luyện kiếm – khí giống các môn võ phái Đạo gia khác, với Thôi Tâm chưởng và Vô ảnh ảo cước.

– Nguyên hình:

phái Thanh Thành

Đến nay, phái Thanh Thành đã truyền được 21 đời, và vẫn đang có số lượng đệ tử đáng kể.

Núi Thanh Thành nằm cách thành phố Đô Giang, tỉnh Tứ Xuyên khoảng 15 km về phía Tây Nam, là một trong những cái nôi của Đạo giáo Trung Quốc, với quần thể kiến trúc Đạo giáo còn rất nguyên vẹn.
Phái Thanh Thành là phái võ học cổ truyền Trung Quốc, được xếp hạng di tích văn hóa phi vật thể tỉnh Tứ Xuyên. Đến nay, phái Thanh Thành đã truyền được 21 đời, và vẫn đang có số lượng đệ tử đáng kể.

1.11 Đoàn thị Đại Lý

– Trong tiểu thuyết Kim Dung:

Đoàn gia phái là môn võ phái của họ Đoàn, vương tộc của nước Đại Lý. Đoàn Gia Phái do Đoàn Tư Bình sáng lập cùng với nước Đại Lý và 2 tuyệt kỹ Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm.

Ông đặt ra luật: Nhất Dương Chỉ được truyền dạy, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử xuất gia của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này), vì uy lực của nó quá lớn nên phải tu tập Phật pháp để trung hòa. Qua các tác phẩm của Kim Dung thì Đại Lý Đoàn Thị được miêu tả rõ nhất qua tác phẩm Thiên Long Bát Bộ với nhân vật chính là Đoàn Dự.

– Nguyên hình:

Mặc dù võ công Đoàn gia phái hoàn toàn là sản phẩm hư cấu, Đại Lý là một quốc gia thực sự từng tồn tại. Đại Lý là một vương quốc của người Bạch, tồn tại từ năm 937 cho đến năm 1253, khi quốc gia này bị đế quốc Mông Cổ xâm chiếm. Đại Lý theo Phật giáo Mật Tông, từ vua tới dân đều sùng đạo. Thành cổ Đại Lý vẫn còn nằm ở Vân Nam, Trung Quốc.

Vương triều Đại Lý

Vương quốc Đại Lý là một vương quốc của người Bạch đã từng tồn tại từ năm 937 cho đến năm 1253

Trong lịch sử, nước Đại Lý nhiều lần xung đột với các vương triều Đại Việt, kết cục các cuộc xung đột này phần lớn là chiến thắng của Đại Việt. Lần cuối cùng quân Đại Lý xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam là cuộc chiến giữa Nhà Trần với đế quốc Mông Cổ năm 1258, khi tướng Ngột Lương Hợp Thai dẫn theo nhiều du binh Đại Lý thâm nhập Đại Việt.

2. Các môn phái, bang hội trong kiếm hiệp Kim Dung và thế giới quan nhân sinh sâu sắc

Văn học phản ánh các hình thái gần gũi nhất của văn học chính là tôn giáo. Chính vì thế, khi Kim Dung chọn loại tác phẩm võ hiệp để sáng tác, ông tất yếu phải đưa vào tác phẩm của mình những sinh hoạt tôn giáo, môn phái, bang hội.

Dù không sống trong xã hội phong kiến nhưng những tác phẩm võ hiệp của ông đã phản ánh một cách khá sinh động xã hội phong kiến Trung Quốc, khi mà các thế lực phong kiến tập quyền chưa đủ mạnh để diệt hết các thứ bàng môn tà đạo, các đảng cướp cát cứ một phương, các thế lực tiến bộ đối kháng với các triều đại phong kiến… Và chăng, khi mà khoa học chưa ra đời thì niềm tin của con người đặt vào thần quyền rất mạnh. Chính vì thế, tác phẩm kiếm hiệp Kim Dung luôn luôn gắn liền với sinh hoạt và tư tưởng các tôn giáo, bang hội.

Chùa Thiếu Lâm

Phật Giáo xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm của Kim Dung

Đối với các tôn giáo, Kim Dung Đã tỏ ra hết sức ưu ái và kính trọng đạo Phật. Đạo Phật xuất hiện trong tác phẩm của ông với hình ảnh của các nhà sư chùa Thiếu Lâm và tư tưởng Phật giáo được ông mến mộ nhất là tư tưởng Thiền tông, một trong mười tông phái Phật giáo. Trong 12 bộ tiểu thuyết của Kim Dung, người ta biết đến đạo Phật qua hình ảnh của ngôi chùa Thiếu Lâm đặt tại tỉnh Hồ Nam, Tung Sơn Thiếu Lâm Tự.

Dưới ngòi bút tài tình của Kim Dung, những nhà sư Thiếu Lâm chân chính là những hiệp sĩ chuyên hành hiệp cứu đời, giúp người, luôn xả thân vì đại nghĩa, chống lại các thế lực ngoại xâm của Khất Đan, Kim Quốc, Mông Cổ, Tây Hạ để bảo vệ dân tộc và bờ cõi Trung Hoa.

Thông qua ngòi bút của Kim Dung, những nhà sư Thiếu Lâm đã được thần thánh hoá về cuộc đời và võ công, luôn luôn có mặt trong những tình huống nguy kịch nhất và trở thành biểu tượng tươi đẹp của võ lâm Trung Hoa.

Thiếu Lâm luôn được xem là Thái Sơn Bắc Đẩu trong kiếm hiệp Kim Dung

Thiếu Lâm luôn được xem là Thái Sơn Bắc Đẩu trong kiếm hiệp Kim Dung

Ông thường dành cụm từ “Thái Sơn Bắc Đẩu” khi nói về phái Thiếu Lâm. Những nhà sư trong tác phẩm Kim Dung có vai vế, thứ tự hẳn hòi, pháp danh được gọi theo từng đời, mỗi đời là một chữ riêng biệt: Vô – Vô Sắc, Vô Tướng; Độ – Độ Ách, Độ Nạn, Độ Kiếp; Không – Không Kiến, Không Văn, Không Trí, Không Tín; Huyền – Huyền Từ, Huyền Thống, Huyền Nạn… Đó là những người đức cao vọng trọng, thấm nhuần Phật pháp và thanh quy giới luật của nhà chùa, say mê tu luyện võ công gồm 72 tuyệt kỹ được gọi là Thất thập nhị huyền công.

Hình bóng những chiếc tăng bào màu vàng, màu xám, màu nâu luôn xuất hiện trong những tác phẩm của Kim Dung, từ Thiểm Tây tới Cam Túc, từ Vân Nam tới Triết Giang, từ Nhạn Môn Quan tới Sơn Hải Quan. Các nhà sư Thiếu Lâm không hiếu chiến, không đa sát, luôn luôn tôn trọng chữ từ bi, mở đường phương tiện cho kẻ thù địch. Tất cả, từ Thiên Long bát bộ, Ỷ thiên Đồ long ký, hay Tiếu ngạo giang hồ…; giữa chốn đao thương hung hiểm, các nhà sư đắc đạo vẫn ung dung ngồi tọa thiền thuyết Pháp hoa kinh, Kim cang kinh, Niêm hoa kinh…

Trong tiểu thuyết của Kim Dung cũng có một hình thái Phật giáo khác được xem là bàng môn tả đạo. Đó là đạo Phật của các nhà sư Thiên Trúc, Thổ Phồn, Tây Tạng, Mông Cổ mang xuống Trung Nguyên. Đó là giáo chủ Huyết Đao Môn của Mật tông Tây Tạng (Liên thành quyết), Ba La Tinh, Triết La Tinh người Ấn Độ, Cưu Ma Trí người Thổ Phồn (Thiên Long Bát Bộ).

Do hạn chế của quan điểm dân tộc, Kim Dung đã xây dựng những nhân vật nhà sư ngoại nhập này như những người tàn ác, cũng ăn cắp võ công bí lục, hãm hiếp gái tơ, phá hoại nền hoà bình của Trung Hoa. Phái sư áo đỏ của Mật tông Tây Tạng bị Kim Dung xem nhẹ nhất. Trong Lộc Đỉnh ký họ là những người âm mưu đánh vào Ngũ Đài Sơn để bắt vua Thuận Trị làm áp lực chính trị với vua Khang Hy. Những Lạt Ma cao cả của Tây Tạng như Đạt Lai Hoạt Phật, Ban Thiền Hoạt Phật và Tang Kết Hoạt Phật cũng bị Kim Dung xem như là không đứng đắn.

Phái Võ Đang do Trương Tam Phong (Trương Quân Bảo) sáng lập là một môn phái tiêu biểu cho tư tưởng Lão Trang tức Đạo gia. Căn cứ trên chủ trương “vô vi thanh tịnh” của Đạo gia, phái Võ Đang là một võ phái “vô vi nhi vô bất vi” (không làm nhưng không có gì là không làm).

Phái Võ Đang thuộc Đạo Gia

Trong Ỷ thiên Đồ long ký và Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung đã dành nhiều cảm tình đặc biệt cho các đạo gia của phái Võ Đang. Dưới ngòi bút của Kim Dung, những đạo sĩ hay những đệ tử tục gia của Võ Đang là những con người luôn luôn hành hiệp trượng nghĩa, tế khổn phò nguy, yêu nước nồng nàn.

Một nhân vật tiêu biểu cho Đạo gia Võ Đang là Trương Tam Phong, được tác giả gọi một cách kính trọng là Chân nhân. Võ công Võ Đang đặt trên nền tảng của nguyên lý m Dương, là một dạng của võ công huyền môn chánh tông. Một số công phu của Võ Đang được lưu truyền đến bây giờ như Thái cực quyền, Thái cực kiếm pháp, Thê vân túng công.

Nếu võ công Thiếu Lâm chú trọng dương cương, nhanh mạnh thì võ công Võ Đang chú trọng âm nhu, uyển chuyển thư thái. “Nặng tựa Thái Sơn nhưng cũng nhẹ tựa lông hồng” – đó là nguyên tắc tập luyện cơ bản của đệ tử Võ Đang.

Võ Đang chú trọng âm nhu, uyển chuyển thư thái

Phái Nga Mi – theo truyện là do Quách Tương, con gái Quách Tĩnh sáng lập – là một nhánh khác của Phật giáo Trung Quốc. Vì Quách Tương có ngoại hiệu là Tiểu Đông Tà nên dù lập ra môn phái chính đạo, cũng ăn chay niệm Phật, đệ tử chủ yếu là nữ ni xuất gia, phái Nga Mi vẫn mang trong mình một chút gì khốc liệt trong căn bản võ công.

Ỷ thiên Đồ long ký đã xây dựng một hình ảnh chương môn Nga Mi Diệt Tuyệt sư thái và chỉ cái tên thôi, ta cũng hình dung ra được mức độ khốc liệt của vị chưởng môn này: diệt hết, không chừa một ai. Trong thực tế Nga Mi là tên một ngôi chùa danh tiếng của Trung Quốc, hình thành trên 1.000 năm, là nơi tu hhành của nhiều sư nữ đạo cao đức trọng.

Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng hình ảnh 5 môn phái chuyên sử kiếm, gọi là Ngũ Nhạc kiếm phái, lấy tên theo năm hòn núi: Tung Sơn, Thái Sơn, Hành Sơn, Hoa Sơn và Hằng Sơn. Trong 5 phái, chỉ có Hằng Sơn là theo Phật giáo, do nữ ni cầm đầu, đệ tử gồm toàn nữ, cả xuất gia lẫn tục gia. Vì toàn là nữ cho nên kiếm pháp Hằng Sơn khác hẳn kiếm pháp 4 phái kia, chiêu thức uyển chuyển, tư thế mỹ lệ, ứng theo nguyên lý “Miên lý tàng châm” (trong bông có kim), hễ kẻ địch đánh càng mạnh thì càng gặp nhiều nguy hiểm.

Các tác phẩm Kim Dung được chuyển thể thành phim

Tác phẩm Kim Dung được chuyển thể thành phim

Kim Dung xếp những môn phái trên vào “danh môn chính phái”. Nói đến danh môn chính phái tất phải nói đến bàng môn tả đạo. Vậy bàng môn tả đạo trong tác phẩm của ông gồm những môn phái nào?

Trước hết, người ta bắt gặp khái niệm Ma giáo được nhắc đi nhắc lại trong nhiều tác phẩm. Trong Ỷ Thiên, chữ Ma giáo được nhiều hào khách giang hồ gán cho Minh giáo Trung Quốc, một chi nhánh của Bái hỏa giáo Ba Tư. Sử Trung Quốc chép vào thời Võ Hậu nhà Đường, người Ba Tư là Hốt Đa Đán đã cầm quyển Tam tôn kinh từ Ba Tư đi về Trung Quốc và đến triều kiến Võ Hậu. Trong tác phẩm Minh giáo lưu truyền Trung thổ ký của Dương Tiêu, một hộ pháp giáo vương của Minh giáo thì Minh giáo truyền vào Trung Quốc được xác định là ngày 22 tháng 6 Đương Đại Lịch tam niên…

Nhà Đường thấy Bái hỏa giáo là một tôn giáo đúng đắn, lại có kinh điển tư tưởng hẳn hoi nên cho phép Bái hỏa giáo lập chùa, quy tụ tín đồ. Kinh đô Lạc Dương có ngôi chùa Bái hỏa giáo đầu tiên, gọi là Đại Vân Quang Minh tự; sau đó chùa được xây dựng nhiều thêm ở Thái Nguyên, Hồng Châu, Kim Châu, Việt Châu. Năm thứ ba thời Hậu Xương, nghe lời sàm tấu của một số quan lại, nhà vua ra lệnh giết hại những tín đồ Minh giáo. Minh giáo phải rút vào bí mật.

Chu Nguyên Chương

Chu Nguyên Chương là vị hoàng đế khai quốc của Hoàng triều nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc, cai trị từ năm 1368 đến 1398

Trong cuộc chiến đấu gian nan, người Minh giáo vẫn ăn chay, cữ rượu và một lòng thờ phượng thánh Minh Tôn. Từ đó, Minh giáo đứng hẳn về phía dân nghèo, khởi nghĩa chống những thế lực phong kiến. Thời vua Tuyên Hòa (Huy Tông, Bắc Tống), giáo chủ Phương Lạp khởi nghĩa chống bọn tham quan ở Việt Châu, tên tuổi đứng ngang hàng với Tống Giang. Thời vua Kiến Viêm (Khâm Tông) có Vương Tông Thạch khởi nghĩa ở Tín Châu; thời Thiệu Hưng (Cao Tông, Nam Tống) có Dư Ngũ Bà khởi nghĩa ở Từ Châu; thời Thiệu Định (Lý Tông) có Trương Tam Thương khởi nghĩa ở Quảng Đông.

Khi quân Nguyên xâm lăng Trung Quốc, tín đồ Minh giáo tập trung lên Quang Minh Đính vùng sa mạc Gobi lập tổng đàn khởi nghĩa kháng Nguyên. Đệ tử Minh giáo là Chu Nguyên Chương thống lĩnh đại binh về Hồ Bắc, chiếm cứ một vùng rộng lớn, đánh ra Hoài Tứ, đuổi được quân Nguyên. Chu Nguyên Chương lên ngôi vua, nhớ mình là đệ tử Minh giáo nên đặt đến hiệu là Minh Thái Tổ. Từ đó, nhà Minh ra đời.

Quang Minh Đỉnh

Hình Ảnh thực tế Quang Minh Đỉnh tổng đàn của Minh giáo trong Ỷ Thiên Đồ Long 

Như vậy, Minh giáo không phải là bàng môn tả đạo mà là mộ môn phái yêu nước, sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa. Những nhân vật Trương Vô Kỵ, Vi Nhất Tiếu, Ân Thiên Chính… là những nhân vật của tiều thuyết. Nhưng Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân… là những anh hùng có thật trong lịch sử Trung Quốc.

Trong Ỷ thiên đồ long ký, ta còn gặp một tà giáo khác là Bạch Mi giáo. Bạch Mi giáo hoạt động trên vùng sông Trường Giang, thủ đoạn rất tàn độc nhưng trong cuộc khởi nghĩa kháng Nguyên, giáo đồ Bạch Mi giáo đã về quy thuận dưới trướng Minh giáo, trở thành những anh hùng có công, xa hẳn những chủ trương tàn độc cũ.

Trong Lộc Đỉnh ký, cũng có một giáo phái tương tự là Thần long giáo. Giáo phái này thờ rắn (địa long) và từ địa long, người ta tôn xưng thành thần long. Thần long giáo kết hợp với Nga La Tư, định dâng 3 tỉnh Đông bắc Trung Quốc cho Nga và để đổi lại, người Nga sẽ giúp họ đem binh chống lại triều đình nhà Thanh do Khang Hy lãnh đạo.

Nếu như trong các phái, Thiếu Lâm đứng đầu thì bên các bang hội, Cái bang là bang tiêu biểu. Trong truyện võ hiệp Kim Dung, hình ảnh quần hùng Cái bang luôn luôn hiện diện bên cạnh các nhà sư Thiếu Lâm. Trong 12 tác phẩm, Kim Dung đã dành nhiều chương hồi nói về Cái bang, bang quy tụ những người ăn mày nhưng giàu long yêu nước, chuyên hành hiệp trượng nghĩa, tế khổn phò nguy.

Tác phẩm Kim Dung đã để lại cho đời sau những huyền thoại đẹp về các bang chúa Cái bang như Hồng Thất Công, Hoàng Dung, Kiều Phong. Bạn đọc tiểu thuyết võ hiệp có thể nhận ra được tấm lòng ưu ái của tác giả dành cho giới ăn mày khố rách áo ôn, đầu được xó chợ.

Cái Bang

Cái Bang là một môn phái hoàn toàn giả tưởng của Kim Dung

Các nhân vật Cái bang ăn nói đơn giản, đi xin nhưng không bao giờ ăn cắp, hành động tinh tế và tư duy bén nhạy như bất kỳ con người có học nào. Cái bang xuất hiện trong tiểu thuyết Kim Dung với thứ bậc hẳn hòi: một túi là mới gia nhập, tám túi là lên trưởng lão, có bài hát Liên hoa lạc (hoa sen rụng) là dấu hiệu liên kết tấn công kẻ địch, có Đả cẩu trận vây hãm kẻ thù, có Đả cẩu bổng pháp làm bảo vật trấn bang.

Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung có đề cập đến 2 chi của Cái bang: Chi Ô y (áo dơ) và chi Thanh y (áo sạch). Những trưởng lão của Thanh y cũng đeo nhẫn vàng, ăn mặc xa hoa như phú thương, dùng tiền như nước. Thuyết này nghe rất mới lạ!

Trong tiểu thuyết Kim Dung, có một số bang khác cũng được nhắc đến như Thần Nông bang, Cự kình bang, Mao sơn bang, Hải sa bang… Đại để chỉ đây là những bang nhỏ, cát cứ ở một vùng nhất định, có những hoạt động đi ra ngoài sự kiểm soát của chính quyền phong kiến địa phương và hành vi của họ thường là hành vi tàn ác.

Trong Thiên Long bát bộ, Thần Nông bang là một bang chuyên dùng thuốc độc, cát cứ vùng núi Vô Lượng. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Cự kình bang, Hải sa bang, Mao sơn bang là bang bang hoạt động trên vùng sông biển, hành vi cơ bản là giết người cướp của. Cự kình bang cát cứ sông Trường Giang, Hải sa bang cát cứ vùng Quảng Tây, Mao sơn bang cát cứ vùng Thiểm Bắc. Tuy nhiên, những hành vi tàn độc của 3 bang này không qua mặt nổi bọn giáo đồ Bạch Mi giáo.

Đặc biệt, trong 12 bộ tiểu thuyết, Kim Dung chỉ đề cập đến một hội. Đó là Thiên Địa hội, một tổ chức chính trị – quân sự có tầm ảnh hưởng lớn, có tổ chức quy mô gồm toàn người Hán, hoạt động chống lại triều đình Khang Hy. Thiên Địa hội là một tổ chức có thật do Trần Cân Nam (Trần Vình Hoa) làm Tổng đàn chủ, căn cứ tại Đài Loan, thế lực bành trước ra khắp 12 tỉnh ven biển.

Trần Cận Nam là nhân vật có thật, làm quân sư cho Trịnh Thành Công, người cầm đầu đảo Đài Loan, chống lại triều Thanh. Ông vốn là một nhà văn làm chính trị nhưng khi xây dựng thành một nhân vật tiểu thuyết, Kim Dung đã tạo nên một Trần Cận Nam văn võ toàn tài, đầy đủ bản lĩnh, điều hành một cách khoa học những hoạt động quân sự và tình báo gián điệp nhằm chống lại người Mãn Châu.

Trần Cận Nam bị con thứ của Đài Loan vương Trịnh Thành Công là Trịnh Khắc Sảng giết vì nghi kỵ ông có lòng phản nghịch. Tổ chức Thiên Địa hội tan rã, lớp bị triều đình Khang Hy bắt, lớp bỏ trốn tha phương mai danh ẩn tích. Tuy nhiên, Thiên Địa hội đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng người đọc Lộc Đỉnh ký bởi vì họ là tổ chức tiêu biểu cho lực lượng yêu nước phản Thanh phục Minh, giấc mơ lớn của mọi người yêu nước Trung Quốc trong thế kỷ XVII.

Chính từ những hoạt động của Thiên Địa hội mà một số hội đoàn chính trị chống nhà Thanh sau này cũng mô phỏng cách hoạt động ấy. Một thí dụ cụ thể là Hồng hoa hội, hoạt động chống chính quyền triều vua Hàm Phong.

Một cách khái quát, khi xây dựng những tôn giáo, môn phái, bang hội trong truyện võ hiệp, Kim Dung đã hé mở cho ta thấy sự tông trọng quan điểm “tam giáo đồng nguyên” của ông. Phật giáo có Thiếu Lâm, Nga Mi, Hằng Sơn… Đạo giáo theo tư duy Lão Trang có Võ Đang, Tiêu Dao, Thiên Sơn… Nho giáo có Thiên Địa hội, một tổ chức nhập thể và nhập thế. Kim Dung cũng đồng thời tôn trọng nhũng tư tưởng tôn giáo ngoại nhập.

Ngoài tình cảm dành cho Bái Hỏa Giáo Ba Tư, ông còn nhắc tới Hồi giáo, Thiên chúa giáo (thông qua 2 nhân vật người Tây dương là Nam Hoài Nhân và Thang Nhược Vọng) với những tình cảm chân thật, nhận định trung thực về bản chất lương thiện của các tôn giáo.

Ông cũng tỏ ra tôn trọng những tình cảm khác của dân tộc Trung Hoa khi đưa ra một số bang phái khác dù hoạt động của họ khi tà khi chính. Chẳng đứng hẳn về một hệ tư tưởng nào như các phái Lao Sơn, Không Động, Thanh Thành…

Đọc Kim Dung, ta thấy được một hiện tượng sinh động của xã hội phong kiến Trung Quốc từ thế kỷ XVII trở về trước: sự cát cứ của các thế lực chính trị và quân sự giữa lòng xã hội phong kiến. Gần như bang phái nào cũng đứng ngoài vòng pháp luật, kể cả chùa Thiếu Lâm! Họ có cách thực hiện công lý riêng của họ: dùng võ công để tế khổn phò nguy, giải quyết việc đời, thực hiện công bằng xã hội trước làn đao mũi kiếm.
Họ không hề tôn trọng chính quyền phong kiến. Trên cái nhìn này, ta có thể thấy được truyện Kim Dung như là một bản điều tra xã hội học về xã hội Trung Hoa cũ. Có thể nói chính những bất công của cuộc đời đã “đặt hàng” cho võ học phát triển, cho những bang phái ra đời để thực hiện một thứ luật khác: luật giang hồ.

Nói chuyện Kim cương kinh chưa chắc người ta đã tâm đắc. Nhưng từ Kim Cương kinh, các nhà sư Thiếu Lâm đã luyện thành Kim Cương chỉ, có kình lực tan bia vỡ đá, có thể dùng ngón tay viết chữ và vẽ bàn cờ lên đá được thì người ta dễ lý hội khái niệm “kim cương” hơn.

Thơ Tiêu Dao Du

Thơ Tiêu Dao Du hình ảnh minh họa

Cũng thế, thật khó hình dung ra khái niệm “Tiêu Dao Du” trong tác phẩm “Nam Hoa Kinh”, được Kim Dung hình tượng hoá thành nhân vật Vô Nhai Tử (Tiêu Dao Tử), chưởng môn phái Tiêu Dao, giỏi đánh cờ, đánh đàn, võ công, y thuật, địa lý, lại có thuật “trụ nhan” làm khuôn mặt tươi vui trẻ mãi không già, sống giữa đời hiện thực với một trái tim lãng mạn, lấy chuyện vui chơi năm hồ, bốn biển làm vui, không hệ luỵ đến cuộc đời (Thiên Long bát bộ).

Nói cách khác, Kim Dung đã chuyển một hệ thống tư tưởng triết học lý thuyệtt sang hệ thống thực hành, một dạng triết học Đông phương gần gũi với mọi người, mọi trình độ nhưng không hề dung tục và thô thiển thông qua việc xây dựng các võ phái trong tác phẩm của mình.

Yếu tố sau cùng cũng khá thú vị là thông qua một vài thế võ, cách vận công, cách tự vệ, các nhân vật của Kim Dung có thể bộc lộ ra môn phái, sư thừa của mình. Ngay đến trong cách khám nghiệm vết thương, người ta cũng nhận ra được vết thương đó do loại võ công, vũ khí nào gây nên và quy trách nhiệm. Dư Đại Nham bị đánh vỡ hết các khớp xương; võ công đó chỉ có thể là Kim cương chỉ của phái Thiếu Lâm.

Gia đình Lâm Bình Chi bị giết oan hết, mặt người nào cũng hiện lên một nụ cười quái dị vì trái tim bị vỡ dù lồng ngực không có dấu hiệu chấn thương bên ngoài. Võ công đó chỉ có thể là Tồi Tâm chưởng của phái Thanh Thành. Nói cách khác, thông qua võ công, thông qua vết thương, người ta có thể xác định được tôn giáo, bang phái nào đã ra tay hành động.

Chính trên những chi tiết thú vị như thế mà truyện tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung đã vượt xa các tác giả đương đại về mặt tri thức. Và cũng chính nhờ những chi tiết đó, người đọc kiếm hiệp có thể phân biệt được chính tác truyện của Kim Dung với một nguỵ tác của một người nào đó, cũng ký tên là Kim Dung!

– Vũ Đức Sao Biển –

4 thoughts on “Các môn phái trong truyện kiếm hiệp Kim Dung có thật không

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *